Viet Anh Nguyen
TWO dot ZERO is GOOD …

Tháng 1
03

Thế giới là một cuộc chọn lọc và đào thải không ngừng, nhưng thế giới IT còn khắc nghiệt hơn. Bạn sẽ là người bị đào thải kế tiếp?

1. Cái chết của mô hình Waterfall

Năm 1970, mô hình nổi tiếng và được áp dụng trong qui trình phát triển phần mềm tại phần lớn các công ty hiện nay ra đời: mô hình thác nuớc (waterfall model). Mô hình này là kết quả của sự kết hợp các mô hình sản xuất từ các ngành kỹ thuật khác áp dụng cho công nghệ phần mềm. Nó định nghĩa ra chuỗi qui trình phát triển theo thứ tự từ trên xuống bao gồm: lấy yêu cầu khách hàng, làm thiết kế, phát triển, kiểm định và cuối cùng sẽ bàn giao cho người dùng. Bạn sẽ thấy mô hình này giống hệt với qui trình xây một căn nhà: kiến trúc sư tìm hiểu yêu cầu của chủ nhà, thiết kế căn nhà, đưa cho đội ngũ thi công thực hiện, kiểm tra chất lượng và cuối cùng trao chìa khóa cho người sở hữu.
Năm năm sau, Frederick Brooks phát hiện ra lỗ hổng lớn đầu tiên của mô hình này trong cuốn sách kinh điển về quản trị dự án: The Mythical Man-Month (Bí mật về tháng nhân công). Chắc các bạn làm phần mềm đều biết khái niệm man-month (hay man-day) là thước đo căn bản để tính giá cho việc phát triển phần mềm: đó là công lao động trong một tháng (hay một ngày) của một lập trình viên. Phát hiện nổi tiếng nhất của Brooks là “trong phát triển phần mềm không phải cứ thêm nhân công thì dự án sẽ nhanh hơn theo cùng cấp số“. Vấn đề là do sự mất cân đối trong giao tiếp khi số lượng người tham gia tăng lên.

Nhiều năm qua đi, người ta ngày cảng học hỏi được nhiều hơn về cách tốt nhất để làm một phần mềm và cũng bắt đầu nhận thức được rằng mô hình thác nước là quá cứng nhắc và thiếu thực tế. Không giống như việc bạn xây một căn nhà, ngay khi thiết kế, người ta đã dự kiến được 99% hình thù và chi tiết căn nhà sẽ như thế nào. Một dự án phần mềm hiếm khi được hình dung một cách chi tiết và đúng theo yêu cầu công việc. Chỉ khi đưa vào thử nghiệm trong môi trường thực các vấn đề mới bắt đầu phát sinh và việc thay đổi yêu cầu diễn ra thường xuyên.

Những người “ngoại đạo” thường nghĩ rằng vì phần mềm là “mềm” nên có thể dễ dàng thay đổi chỉnh sửa tùy hứng. Nhưng thực ra phầm mềm cũng giống như bất kỳ một cơ cấu kỹ thuật nào khác (như máy móc cơ khí chẳng hạn), nó cũng có thiết kế và cấu trúc (mà thường lại còn phức tạp hơn các máy móc cơ khí rất nhiều).

Khi yêu cầu công việc thay đổi, việc thay đổi trong phần mềm là tất yếu và trong thế kỷ 21 này các thay đổi lại càng diễn ra thường xuyên và nhanh chóng. Với mô hình thác, việc theo kịp các thay đổi là không thể thực hiện vì vòng qui trình của nó quá dài. Nó giống như việc cứ mỗi lần có bất kỳ thay đổi nào là bạn phải gần như phải phá căn nhà đi và xây lại từ đầu. Bạn có thể hình dung ra được sự tốn kém và bất tiện sẽ lớn như thế nào.

Tóm lại, hai vấn đề lớn nhất của mô hình thác nước là:

  1. Mô hình này quá tự tin với giả định rằng chúng ta luôn có thể làm được một hệ thống hoàn hảo ngày lần đầu.

  2. Phầm mềm ngày càng khác với các cơ cấu kỹ thuật cứng nhắc mà giống như các cơ thể sống – nó phải tiến hóa để thích hợp với môi trường. Đây chính là tiền đề cho một phương thức phát triển mới chiếm lĩnh ưu thế trong những năm gần đây: phương thức phát triển linh hoạt (Agile Development Methods).

2. Phát triển linh hoạt – Phần mềm tiến hoá

Phương thức phát triển phần mềm linh hoạt bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 90 với mục tiêu là phần mềm phải có khả năng biến đổi, phát triển và tiến hóa theo thời gian mà không cần phải làm lại từ đầu. Phương thức này tập chung vào tính đơn giản: tạo ra một phần mềm thật đơn giản đáp ứng đúng yêu cầu của khách hàng hôm nay và sẵn sàng cho những thay đổi vào ngày mai.

Phương thức phát triển này dựa trên hai kỹ thuật đáng lưu ý nhất:

  1. Refactoring: Giống như vệc bạn trang trí lại căn nhà mà không cần phải cơi nới, xây thêm hay xây lại, “refactoring” (xin lỗi, tôi chưa tìm được từ tiếng Việt nào thích hợp để dịch) cho phép chúng ta chuyển đổi mã lệnh để làm cho ứng dụng tốt hơn, đẹp hơn mà không phá hỏng nó (các bạn có thể tìm hiểu thêm về kỹ thuật này trong cuốn Refactoring: Improving the Design of Existing Code).
  2. Developer Testing: Phần mềm do chính các lập trình viên được kiểm định thay vì do các nhóm tester độc lập làm. Công cụ là “unit test”, cho phép từng phần nhỏ của phần mềm được kiểm định ngay trong quá trình phát triển trước khi lắp ghép vào ứng dụng. (xin xem thêm cuốn Test Driven Development: By Example)

Một trong những yếu tố khác khiến cho phương thức phát triển linh hoạt có thể cất cánh là sự lớn mạnh của các ngôn ngữ kịch bản (scripting language) như PHP, Python và gần đây là “viên hồng ngọc” Ruby. Tính linh hoạt của các ngôn ngữ này khiến cho việc thay đổi phần mềm dễ dàng hơn nhiều so với các ngôn ngữ tiền bối. Thêm vào đó là việc cộng đồng mã nguồn mở đang cung cấp vô số các thư viện dựng sẵn, đáp ứng cho việc phát triển nhanh, triển khai nhanh, thường xuyên đưa ra các cập nhật mới (release soon, release often) theo đúng tinh thần của phương thức phát triển linh hoạt. Phần mềm ngày nay không phải được nâng cấp hàng năm mà là hàng tuần, thậm chí hàng ngày.

3. Tương lai phát triển phần mềm: Chỉ cần một vài “nghệ nhân”

Diggdel.icio.us… các “phần mềm” trị giá hàng chục triệu, hàng trăm triệu USD chỉ do một hai người thực hiện.Facebook, mạng xã hội trị giá nhiều tỷ USD, cũng chỉ do một nhóm nhỏ làm ra.

Bí quyết phát triển các phần mềm có giá trị nhất ngày nay là chỉ cần một vài người có kỹ năng, nhiều nhiệt huyết. Với vài cá nhân xuất sắc trang bị các ngôn ngữ lập trình hiện đại và phương thức làm việc mới, một nhóm nhỏ có thể làm ra những sản phẩm tốt hơn cả một “đạo quân” lập trình viên trước kia.

Tổng kết lại, có thể thấy những thay đổi sẽ diễn ra trong các năm tới đây:

  • Những kỹ sư phần mềm có trình độ cao, có nhiệt huyết và tham vọng sẽ là những cỗ máy làm ra tiền.
  • Những lập trình viên không có kỹ năng đặc biệt có lẽ nên tìm việc làm ở lĩnh vực khác.
  • Những thay đổi mà chúng ta đang thấy ở thị trường phần mềm đại chúng sẽ diễn ra ở các công ty lớn.
  • Đưa phần mềm cho nước ngoài gia công (outsourcing) sẽ ngày càng ít tính kinh tế hơn.
  • Khoa học máy tính vẫn là lĩnh vực cạnh tranh và đòi hỏi cao.

4. Tương lai của các LTV Việt Nam

Nhìn các xu hướng đang diễn ra trên thế giới, có thể thấy rằng các dự án cần hàng trăm người sẽ ngày càng ít đi. Theo tính toán của Mỹ, chi phí outsourcing đang gia tăng (từ 1/10 lên 1/3 so với giá thành sản xuất trong nước) làm cho việc đưa phần mềm ra nước ngoài gia công ngày càng kém hấp dẫn. Ngoài ra, do khó khăn về giao tiếp và chệnh lệch về trình độ, chất lượng các dự án này cũng không được như mong muốn và rất khó bắt kịp các thay đổi của khác hàng.

Các LTV luôn có xu hướng muốn gia nhập các công ty lớn, tham gia vào các dự án lớn. Nhưng có thể đấy sẽ cách tiếp cận sai lầm vì:

  • Tương lai của các công ty làm xuất khẩu phần mềm dạng này đang ngày càng bấp bênh.
  • Bản thân các LTV thường không cải thiện được trình độ vì các công việc được giao ít cần kỹ năng cao hay tính sáng tạo.

Tất nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, sự thay đổi sẽ không diễn ra ngay trong nay mai — mô hình thác nước và các biến thể của nó vẫn sẽ được dùng, người ta sẽ vẫn outsourcing. Nhưng mọi thứ sẽ ngày càng khó khăn hơn, đòi hỏi cao hơn và chỉ khi bạn thực sự chuẩn bị tốt cho sự thay đổi thì mới tránh được việc bị đào thải.

Đáng lo ngại nhất là các LTV Việt Nam còn xa mới theo kịp các đồng nghiệp ở các nước như Ấn Độ hay Ireland cả về mặt tổ chức lẫn kỹ năng. Chúng ta quá chú trọng tới các công nghệ độc quyền của Microsoft, Oracle hay IBM và hiểu biết về mã nguồn mở là một lỗ hổng lớn. Không may, có thể ngày mai công ty sẽ nói lời chia tay với bạn chỉ vì bạn không có kinh nghiệm gì về Python hay cơ sở dữ liệu MySQL. Như tựa một bộ phim “Đó là một tương lai không quá xa” (Not too far future), xin hãy suy nghĩ lại con đường của mình.

Theo ReadWriteWeb - Dịch bởi Web2VietNam

Tháng 11
28

Ngay vào thời điểm lễ tạ ơn (Thanksgiving day) năm nay, µTorrent một phần mềm phía client của BitTorrent được đông đảo người sử dụng, đã cho ra mắt phiên bản Beta trên Mac, sau một số thông tin rò rỉ về một phiên bản Alpha hồi vài tháng trước.

Phiên bản µTorrent trên Windows lần đầu ra mắt công chúng vào tháng 9 năm 2005, sau đó được BitTorrent mua lại vào năm 2006. BitTorrent đã tiếp tục phát triển ứng dụng này và hứa hẹn cho một phiên bản trên Mac, đến bây giờ thì điều đó đã được thực hiện. Tuy nhiên trên blog Torrentfreak cho biết rằng, phiên bản mới này chỉ dùng được trên Leopard và chỉ chạy trên những máy Mac chip Intel, thêm vào đó, µTorrent trên Mac hiện vẫn còn tiềm ẩn nhiều lỗi nghiêm trọng.

Bạn có thể download phiên bản Mac của µTorrent tại đây

Source: TechCrunh

Tháng 11
20

Google vừa có thông báo là sẽ cho ngừng hoạt động Lively, một mạng xã hội ảo trên nền Browser của mình. Lively vừa được Google cho ra đời vào tháng 7 vừa rồi. Thông báo trên website của Lively nói rằng nó sẽ bị đóng cửa vào 31 tháng 12 sắp tới, và ngay sau đó, Lively đã được nằm trong danh sách deadpool của TechCrunch.

Một bài viết ở Google Blog có trình bày về quyết định này:

. . . we want to ensure that we prioritize our resources and focus more on our core search, ads and apps business

. . . chúng tôi muốn đảm bảo rằng mình ưu tiên mọi nguồi lực và tập trung hơn nữa vào nền tảng tìm kiếm, quảng cáo và các ứng dụng doanh nghiệp của mình


Chúng ta có thể đoán trước được rằng sẽ có chuyện gì đó xảy ra sau khi có thông tin cho biết rằng Lively không thể chạy được trên trình duyệt Chrome của chính Google. Thêm vào đó, biểu đồ xu hường (trends chart) của Lively trên Google Website Trends cho thấy, kể thời khắc cao điểm lúc ban đầu cho đến nay, mọi thứ đều đi xuống.

Đây có lẽ là một dấu hiệu tốt, cho thấy rằng Google sẵn sàng cắt bỏ đi những ứng dụng kém hiệu quả của mình. Vậy sau Lively sẽ là ứng dụng nào tiếp theo … ? :)

Source TechCrunch

Tháng 11
19

Jerry Yang là người đàn ông đáng giá 1,8 tỷ USD. Thị trường chứng khoán cho rằng Yahoo! sẽ đáng giá hơn nhiều nếu như không có Yang đứng trong hàng ngũ “chóp bu” của công ty. Điều đó gần như đúng với số tiền mà cổ phiếu Yahoo! vừa tăng trong phiên giao dịch đầu tiên vào buổi sáng ngày 18/11, ngay sau buổi tối có thông báo rằng Yang sẽ rời bỏ chiếc ghế CEO (17/11). Cổ phiếu Yahoo! đã tăng gần 12% vào phiên giao dịch buổi sáng sớm, 11.94 USD/CP so với phiên giao dịch đêm qua là 10.63 USD/CP, giá cổ phiếu chênh lệch là 1.31 USD x 1.4 tỷ cổ phiếu = 1.83 tỷ USD.

Với sự ra đi của Yang, viễn cảnh Yahoo! sẽ ngồi lại bàn đàm phán vời Microsoft (ít nhất là trong mảng thị trường search advertising) trong lúc này trở nên rõ ràng hơn. Nhưng liệu việc tìm kiếm một công ty nào đó có thể mua Yahoo! và cả cổ phiếu của nó liệu có nằm trong định hướng phát triển mới của công ty?

Và câu hỏi được đặt ra là: liệu Yahoo! có chọn được một vị Giám Đốc Điều Hành có thể làm gia tăng nhiều hơn nữa giá trị của Yahoo! trên thị trường đầu tư hay không? …

Source: TechCrunch

Tháng 11
19
Jerry Yang
Jerry Yang. (Credit: Ethan Miller/Getty Images)

Với mong muốn nhằm cải thiện giá cổ phiếu của Yahoo! – Jerry Yang sẽ buộc phải rời khỏi chiếc ghế CEO (giám đốc điều hành) của công ty, vị trí mà ông được đảm nhận tạm thời từ tháng 6 năm 2007. Yang sẽ trở lại vị trí trước kia của mình là trưởng phòng của Yahoo! (Chief Yahoo!) và vẫn tiếp tục nằm trong BOD (ban giám đốc) của công ty. Yahoo hiện đã thuê Heidrick & Struggles, một công ty chuyên về tìm kiếm nhân lực điều hành để tìm một CEO mới.

Nhìn chung, đây là một kết quả tất yếu, không thể nào tránh khỏi, và theo quan điểm của nhiều người, Yang đã kéo dài thời gian quá nhiều cho quá trình rút lui của mình. Thật ra Yang đã có dấu hiệu muốn bỏ cuộc vào hồi tháng 5 năm vừa qua, và ông đã xác nhận lại điều đó một lần nữa tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Web 2.0 (Web 2.0 Summit). Dưới thời của Yang, Yahoo! đã mất hàng chục tỷ USD trên thị trường đầu tư, và thêm vào đó là hàng nghìn nhân viên cũ (trong đó có hàng trăm người điều hành) của công ty cũng đã “rũ áo ra đi”.

Vậy, câu hỏi đặt ra là: bao nhiêu phần trăm trong sự sụp đổ trên của Yahoo là do Yang trực tiếp gây ra?… Điều này không thể nào trả lời chính xác được, ngoại trừ một điều chắc chắn rằng Yang là người chịu trách nhiệm hoàn toàn vì đã xử lý không được khôn khéo trong vụ việc xát nhập cùng Microsoft trong tháng 2 vừa rồi. Còn một điều nữa, chúng ta cần phải thừa nhận đó là tính kiên định của Yang khi ông cương quyết bằng mọi giá giữ cho Yahoo! là một công ty độc lập. Tuy nhiên, điều mà các cổ đông mong muốn đó lại là một vị lãnh đạo với một kế hoạch phát triển cụ thể.

Chúng ta cùng quay ngược lại thời điểm tháng 6 vừa rồi, khi Jeff Mallet và Dan Rosensweig có thể đã trở thành những ứng viên cho vị trí này. Song, có vẻ như Mallet không hào hứng lắm với công việc này. Trong khi đó, Rosensweig có thể sẽ sẵn sàng đảm nhận ngay, nếu như được đề nghị. Vậy, ai sẽ là CEO mới của Yahoo?

Có thể là bất kỳ ai, nhưng chúng ta cùng hy vọng đó sẽ là một người ngoài công ty. Thực ra Yahoo! cũng đang cân nhắc về việc tuyển ngay những ứng viên nội bộ của mình, và một trong số đó là bà chủ tịch Sue Decker. Tuy nhiên, có nhiều thông tin cho rằng bà ta chính là một trong tác nhân lớn gây ra vấn đề rắc rối vừa qua của Yahoo! và nếu như để cho bà đảm nhận với vị trí CEO thì có vẻ như mọi chuyện sẽ chẳng tốt đẹp hơn chút nào.

Tin công bố từ Yahoo!:

Yahoo! đang tìm kiếm một CEO mới
Người đồng sáng lập Jerry Yang từ chức và trở về vị trí trước kia của mình là trưởng phòng Yahoo! (Chief Yahoo!) và thành viên hội đồng quản trị.

SUNNYVALE, Calif., Nov 17, 2008 (BUSINESS WIRE)

Ngày hôm nay (17/11), Yahoo! Inc. (Nasdaq: YHOO) công bố về việc Hội Đồng Quản Trị bắt đầu tìm kiếm một CEO mới. Jerry Yang, người đồng sáng lập Yahoo! đã quyết định từ chức và trở về vị trí mà trước kia ông đảm nhận là trưởng phòng Yahoo! (Chief Yahoo!) và ông vẫn tiếp tục nằm trong hội đồng quản trị của Yahoo!. Yang, 40 tuổi, đảm đương vai trò giám đốc điều hành theo yêu cầu của Hội đồng Quản trị vào tháng 6 năm 2007, ông đã dẫn dắt Yahoo! thực hiện chiến lược tái định vị và thay đổi nền tảng của cả công ty.

Roy Bostock, chủ tịch hội đồng quản trị Yahoo!, hiện là người đứng đầu trong quá trình thẩm định và xác định các ứng viên tiềm năng. Trong đó sẽ bao gồm cả hai ứng viên nội bộ và bên ngoài, thêm vào đó, Hội Đồng Quản Trị cũng đã thuê Heidrick & Struggles, một công ty hàng đầu trong lĩnh vực nhân sự điều hành nhằm hỗ trợ cho quá trình tìm kiếm.

“Trong vòng hơn một năm qua, ngoại trừ sự xao nhãng và những thách thức bất ngờ xảy đến, Yang đã dẫn dắt chiến lược tái định vị của Yahoo! và mở ra một mô hình nền tảng mới, cũng như đã góp phần giúp cân bằng chi phí và doanh thu, ” Roy Bostock nói. “Jerry và Hội Đồng Quản Trị đã có một buổi đối thoại về giai đoạn kế tiếp, và tất cả chúng tôi đã đồng ý rằng ngay bây giờ là thời điểm thích hợp nhất để bàn giao cho một CEO mới, một người có thể đưa công ty lên một tầm cao mới. Chúng tôi tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Jerry Yang cho sự đóng góp to lớn của anh ở vị trí CEO trong suốt 18 tháng qua. Và chúng tôi cũng thật sự vui mừng khi anh đã chủ động có kế hoạch ở lại làm và tiếp tục làm việc cùng Yahoo! với vị trí một người điều hành chủ chốt (key executive) và là thành viên hội đồng quản trị.”

“Sự phát triển của công ty, từ những ngày đầu thành lập cho đến khi trở thành một thương hiệu toàn cầu (trusted global brand), đó là sự đóng góp không thể thiếu của hàng triệu người, riêng cá nhân tôi luôn luôn cố gắng làm những gì tốt nhật cho việc nhượng quyền thương mại của công ty,” Jerry Yang phát biểu. “Khi được yêu cầu trở thành CEO và lãnh đạo công ty trong quá trình chuyển đổi, tôi đã chấp nhận bởi vì việc tái định hướng lại công việc kinh doanh và chuyển sang một lĩnh vực mới để phát triển hiệu quả hơn là rất quan trọng. Sau khi thiết lập Yahoo! trong giai đoạn mới, con đường rộng mở hơn, cũng là lúc thích hợp để tôi chuyển giao chức vụ CEO, cũng như khả năng toàn cầu (global talent) của chúng tôi cho một người lãnh đạo mới. Riêng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào chiến lược toàn cầu và làm mọi điều có thể để cùng giúp cho Yahoo! hiện thực được đầy đủ tiềm năng của mình, và giúp nâng cao vị thế đứng đầu về công nghệ và những sản phẩm đột phá của Yahoo!.”

Source: TechCrunch
Picture: The New York Times

Tháng 11
18
Vào năm 2006, Facebook bắt tay cùng Microsoft trong một thỏa thuận hợp tác về quảng cáo đầu tiên giữa 2 công ty. Sau đó 1 năm, Facebook nhận được khoản tiền đầu tư 240 triệu USD từ Microsoft và mối quan hệ đó vẫn tiếp tục được mở rộng cho đến ngày hôm nay.

Tất cả những điều trên có thể lý giải cho việc Facebook dễ dàng gạt bỏ đi quy định về bảo mật của mình và cho phép Microsoft truy cập vào danh sách địa chỉ email của người dùng Facebook. Cả Google Plaxo đều “được” Facebook cự tuyệt vì lý do bảo mật thông tin người dùng khi “ngỏ lời” xin được khai thác danh sách địa chỉ email của người dùng mạng xã hội này. Trái ngược với điều đó, Facebook lại “OK” ngay với việc Microsoft sử dụng các tài khoản email này và cho phép người dùng mời bạn bè của mình từ Facebook Friend List tham gia Windows Live Messenger.

Quy định về bảo mật của Facebook có viết:

“We do not provide contact information to third party marketers without your permission. We share your information with third parties only in limited circumstances where we believe such sharing is 1) reasonably necessary to offer the service, 2) legally required or, 3) permitted by you.”

“Chúng tôi sẽ không cung cấp thông tin liên hệ cho bên thứ 3 mà không có sự có sự đồng ý của người dùng. Chúng tôi chỉ chia sẻ những thông tin của bạn trong những trường hợp hạn chế mà chúng tôi thấy là cần thiết như: 1) cần thiết để chào bán dịch vụ, 2) yêu cầu pháp lý hoặc, 3) được cho phép bởi chính bạn.”

Thế nhưng Invite2Messenger của Microsoft rõ ràng đã vi phạm quy tắc đó. Đầu tiên, bạn sẽ được yêu cầu đăng nhập bằng tài khoản Facebook. Ngay sau khi đăng nhập, tên và địa chỉ email của tất cả các tài khoản trong Facebook Friend List của bạn sẽ được gửi đến Microsoft và hiển thị dưới dạng “clear text” trên bảng điều khiển (ngay cả Facebook cũng chỉ hiện địa chỉ email của người dùng dưới dạng hình ảnh trên trang của mình, nhằm tránh tình trạng scraping). Bạn sẽ được quyền lựa chọn những người bạn nào sẽ được mời, và sau đó Microsoft sẽ gửi đến họ một email để cài đặt bản Client và trở thành bạn của bạn (Screenshot ở cuối bài).

Khi cho ra đời Invite2Messenger, Microsoft có đề cập đến sự tham gia của các mạng xã hội khác như LinkedIn, Bebo, Hi5 Tagged, nhưng có vẻ như không có một mạng xã hội nào trong số vừa kể trên có hứng thú tham gia, duy nhất chỉ có Facebook. Thêm một điểm kỳ quặc nữa là trên trang MSN của UK, Microsoft thậm chí đã viết rõ rằng, Robert Scoble (1 blogger) đã bị cấm (banned) khi cố làm những điều đúng y như những gì mà Microsoft đang thực hiện với “đứa con cưng” của Facebook (?) … Từ trước đến nay, Facebook chưa bao giờ đồng ý về điều này đối với bất kỳ một đối tác nào khác, và như trên đã nói, họ chẳng thèm ngó ngàng gì đến lời đề nghị của Plaxo và ngay cả của Google.

Trở lại câu chuyện của Facebook và Microsoft, tại sao Microsoft lại muốn những mối liên kết từ mạng xã hội (social connections) được tích hợp vào trình Messenger của mình đến như vậy? Điều đó có liên quan đến sự ra đời đầy tính bất ngờ của mạng xã hội Live.com?

Trong nhiều tháng, Microsoft đã lôi kéo người dùng, xát nhập “biểu đồ xã hội” (social graph) của họ ở Facebook vào với Messenger của Microsdoft, với sự chấp thuận của Facebook, ngay cả khi ngay cả khi điều đó đã vi phạm một cách rất rõ ràng quy định về bảo mật của Facebook. Và Microsoft cho ra đời một hệ thống mạng xã hội dựa trên các mối liên hệ của người dùng từ Messenger.

Còn nhiều điều nữa cũng cần được nói đến. Tại sao Facebook lại đồng ý với điều đó? (hay nói cách khác, Facebook sẽ có được gì sau sự kiện này?). Chúng ta cùng chờ xem :)


Theo TechCrunch